Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2019

Vỏ quế hồi dương, thông huyết mạch

Quế gồm nhiều chủng loại ở Việt Nam , có 4 loài phổ quát là quế đơn hay quế bì, quế quan (quế ống), quế thanh (quế bì), quế rành (quế lợn). Các loài quế đều cung cấp bộ phận dùng là vỏ thân hoặc vỏ cành. Vỏ thân được gọi là quế thượng châu (loại tốt nhất). Vỏ ở cành to là quế thượng biểu, vỏ ở cành nhỏ là quế chi. Thường thu hoạch vỏ ở những cây quế đã trồng từ 5 - 7 năm trở lên.

dược chất là những mảnh vỏ dày, mặt ngoài mịn, mặt cắt ngang màu đỏ, tía nâu nhiều dầu, mùi thơm đặc biệt đậm và mát, vị ngọt trước, sau cay là loại tốt, được gọi là ngọc quế.

Quế thanh có tác dụng diệt khuẩn, giải độc.

Trong y học cổ truyền, quế được coi là 1 trong 4 vị thuốc quý (sâm, nhung, quế, phụ) có vị ngọt cay, mùi thơm, tính nóng, có tác dụng hồi dương thông huyết quản, diệt khuẩn làm nóng, giảm đau tiêu thực, chống nôn giải độc. Liều dùng hằng ngày 2-6g có khi hơn dưới dạng sắc uống, thuốc bột. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Chữa cảm mạo: Quế 8g, thược dược 6g, cam thảo 6g, sinh khương 6g, đại táo 4 quả. tuốt thái nhỏ sắc với 400ml nước, còn 100ml thuốc uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa suy nhược cơ thể do bệnh đường tiêu hóa: Quế 4g, đẳng sâm, bạch truật, hoàn kỳ, đại táo mỗi vị 12g, trần bì, ngũ vị tử mỗi vị 6g, cam thảo 4g, gừng 2g. Sắc uống càng ngày càng thang.

Chữa dương hư, khí lực suy giảm, liệt dương, liệt tinh, thai nghén khó khăn: Quế 12g, thục địa 24g, sơn thù, hoài sơn, bạch linh mỗi vị 16g, mẫu đơn, bạch tả mỗi vị 8g. Tất cả tán bột làm viên, mỗi ngày 30 - 40g. Có thể sắc uống.

Chữa tiêu chảy: Quế 4g, hạt cau già 4g, gừng nướng 2 lát, gạo 10g. Các Dược liệu phơi khô, tán nhỏ, gạo rang vàng, tán bột. Trộn đều sắc đặc uống trong ngày. Hoặc quế 10g, gừng tươi 25g, long não hoặc bạc hà 20g, đại hoàng 20g. sờ soạng thái nhỏ pha trong rượu 70 độ để được 1 lít. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5ml.

Chữa tê thấp mạn tính thể hàn: Quế 12g, rễ cỏ xước 40g, hy thiêm 20g, thổ phục linh 20g, cỏ lọ nồi 16g, ngải cứu 12g, thương nhĩ 12g, thiên niên kiện 12g, tuốt luốt sao vàng, sắc đặc ngày uống 1 thang, trong 7 - 10 ngày liền. Hoặc quế chi 8g, độc hoạt, tang ký sinh, tần giao, bạch linh, phòng phong, tục đoạn, ý dĩ, bạch thược, xuyên khung, ngưu tất, thục địa, đẳng sâm, mỗi vị 12g, xuyên khung 8g, cam thảo, tế tân mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa viêm khớp dạng thấp: Quế, bạch thược, thương truật, phòng phong, tri mẫu mỗi vị 12g, gừng tươi, ma hoàng, hoắc quế phụ, mỗi vị 8g, cam thảo 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Chữa viêm phế quản mãn tính : Quế 12g, phục linh 16g, bạch truật 6g, cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

Chữa đái tháo đường: Quế 3g, sơn dược 15g, phụ tử chế 12g, phục linh 12g, sơn thù 10g, trạch tả 10g, mẫu đơn bì 6g. Sắc uống 3 lần trong ngày.

Dùng ngoài chữa trúng phong, bại liệt nửa người: Quế 20g, đinh hương, nghệ, rau sam, dây bìm bìm, bá đậu gió, xương bồ, huyết giác mỗi thứ 12g. tất tật tán nhỏ trộn với rượu và nước đái mỗi thứ 1 bát mà xoa bóp.

Chữa nhọt mủ: Quế 10g, hành ta 2 củ giã nhỏ, đắp băng lại trong 24 giờ.

Chú ý: Không dùng cho đàn bà có thai và người âm hư, dương thịnh.

DS. Đỗ Huy Bích

Những cây thuốc dấu và thuốc giấu

“Thuốc dấu” có nhiều loại, đa phần dùng đắp, bó trị mụn nhọt, lở loét, hoặc cầm máu, do sang chấn. Còn “thuốc giấu” là giấu kín, giữ bí ẩn về loài cây thuốc nào đó.

Thuốc dấu còn gọi hồng tước san hô [Pedilanthus tithymaloides (L.)Poit.], họ thầu dầu (Euphorbiaceae)

Cây có chiều cao thân đến 1m, có nhựa mủ trắng như sữa. Cành vặn, mọc thẳng đứng. Lá hình trứng, mọc so le, thành 2 dãy đều nhau. Hoa màu đỏ, mọc ở ngọn. Thường ra hoa vào tháng 4-5 và tháng 8-9.

Thuốc dấu vừa làm cảnh vừa làm thuốc, được trồng ở hầu khắp mọi nơi trong nước. Thuốc dấu thường dùng tươi (lá, hoặc toàn cây), thu hái quanh năm. Thuốc dấu vị chua, hơi chát, tính hàn, có độc. Tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ tiêu thũng, chỉ huyết sinh cơ. Dùng trị chấn thương do ngã, ngoại thương chảy máu, hoặc mụn nhọt, đinh độc, lở ngứa; hoặc vết cắn của rết, sâu bọ..., còn dùng để trị viêm kết mạc mắt, viêm da có mủ. Dùng ngoài, thường dùng lá tươi, hoặc nhựa cây, đắp bó, bôi vào nơi bị tổn thương. Hoặc dùng trong bằng cách lấy lá đã phơi khô, sao vàng hãm uống, liều 4- 6g.

Cây thuốc dấu – hồng tước san hô trị chấn thương do ngã, chảy máu, hoặc mụn nhọt, đinh độc, lở ngứa… Cây thuốc dấu – hồng tước san hô trị chấn thương do ngã, chảy máu, hoặc mụn nhọt, đinh độc, lở ngứa…

Thuốc dấu cà doong còn gọi là thuốc thượng (Phaeanthus vietnamensis Ban.), họ na (Annonaceae)

Cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi, cao chừng 2-10m. Cành non, gần như thường lông. Lá thuôn hoặc gần hình mác, dài 9-16cm, rộng 3-7cm. Đầu lá nhọn, gốc lá hình nêm, hơi lệch. Hoa mọc so le với lá, thành xim màu vàng, hoa có cuống dài 1,5-3cm. Mùa hoa từ tháng 5-12. Quả hình trái xoan, khi chín màu vàng, sau chuyển thành màu mận chín. Thuốc dấu cà doong phổ thông ở Thừa Thiên Huế, Quảng Nam... Bộ phận dùng là lá, vỏ thân, vỏ rễ. Dân gian dùng lá non trị đau mắt. Vỏ rễ, vỏ thân và lá đem nấu cao dán mụn nhọt sưng tấy. Hoặc cao đặc chế từ lá chữa bệnh ỉa chảy.

Thuốc dấu Kunth, còn gọi là đa kim thường nhật [Ptyssiglottis kunthiana (Nees) B. Hansen], họ ô rô (Acanthaceae)

Là loại cây thảo có lông, thân nằm, sau đứng. Lá có phiến xoan hay hình mác, không lông, dài 2-5cm, rộng 1-3cm. Hoa ở nách lá, hay ở ngọn cây, màu trắng. Quả nang. Cây mọc trên núi đá vôi. Cây phổ thông ở vùng núi Hòa Bình. Người ta dùng lá cây thuốc dấu Kunth để làm thuốc đắp, bó, trị đau vùng tim, mụn nhọt, lở loét, bằng cách lấy lá non, thêm chút muối ăn, giã nát, rồi đắp, bó vào nơi bị bệnh.

Thuốc giấu

Là tên một cây thuốc của đồng bào tộc Xê - Đăng, thuộc tỉnh Kon Tum, nay được gọi là sâm Việt Nam (Panax Vietnamensis Ha et Grushv), họ nhân sâm (Araliaceae). Là cây thuốc quý, nên đồng bào dân tộc từ xưa tự bảo nhau phải “giấu” để dùng khi bị đau ốm. Về mặt hóa học, thân rễ và rễ của sâm Việt Nam chứa 49 hợp chất saponin; 7 hợp chất polyacetylen được phân lập; các acid béo: acid palmitic, oleic,… và 18 acid amin: tryptophan, lysin, arginin,...; các nhân tố vi lượng: K, Ca, Mg, Fe, Mn, Zn...; các hợp chất sterol: beta-sitosterol, daucosteron...; các hợp chất glucid: đường tự do, đường toàn phần...

Về tác dụng sinh học, rễ và thân rễ của sâm Việt Nam có tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, liều thấp có tác dụng kích thích thần kinh, tăng hoạt động vận động, tăng trí tưởng, liều cao có tác dụng ức chế. Tác dụng chống trầm cảm ở chuột nhắt trắng. Tác dụng tăng sinh lực, chống lại sự mỏi mệt, giúp hồi phục sức lực, trong thực nghiệm chuột bơi. Tác dụng tăng thích ứng với điều kiện nhiệt độ 37 - 42 độ C và lạnh ở âm 5 độ C. Có tác dụng chống ôxy hóa tốt, tác dụng phục hồi số lượng hồng huyết cầu và bạch huyết cầu; tác dụng kích thích miễn nhiễm, làm tăng chỉ số thực bào trong thí nghiệm.

Theo YHCT, sâm Việt Nam có vị đắng, ngọt. Quy vào 2 kinh phế, tỳ. Công năng bổ khí, bổ phế. Dùng khi thân thể suy nhược, diễn tả mệt mỏi do chân khí suy kiệt, ăn, uống, tiêu hóa kém. Hoặc dùng khi khí phế suy nhược, hô hấp kém, khó thở; viêm họng, đau họng. Ngày dùng 6-10g, hãm hoặc sắc uống. Cũng có khi tán bột, uống với liều như trên. Nếu thể tạng hư, hàn, tức người có cảm giác lạnh và yếu mệt, xanh lướt, nên đem sâm việt Nam chích với gừng tươi.

Đã 40 năm từ ngày phát hiện ra sâm Ngọc Linh, hiện tại là sâm Việt Nam, với rất nhiều đặc tính quý về mặt hóa học, dược lý, trồng tỉa, tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc, song về mặt bào chế vẫn chưa có những sản phẩm mang tính đặc hữu cho sâm Việt Nam. Mặt khác, việc theo dõi về tác dụng lâm sàng thì cũng còn rất nhiều hạn chế, chưa xứng tầm với một cây “thuốc giấu” như sâm Việt Nam.

GS.TS. PHẠM XUÂN SINH

Bữa tối có món thịt bằm này đảm bảo nồi cơm nhà bạn hết veo

vật liệu:

100g dưa cải muối chua

100g thịt lợn

6 quả ớt nhỏ

2 tép tỏi

15ml nước tương

Một chút muối.

Cách làm:

Dưa cải vắt sạch nước rồi thái nhỏ. Thịt rửa sạch bằm nhỏ.

Bữa tối có món thịt bằm này đảm bảo nồi cơm nhà bạn hết veo - Ảnh 1.

Ớt thái lát, tỏi băm nhỏ. Đun nóng chút dầu ăn trong chảo rồi cho tỏi ớt vào xào thơm, tiếp đó đổ thịt bằm vào đảo chung.

Bữa tối có món thịt bằm này đảm bảo nồi cơm nhà bạn hết veo - Ảnh 2.

Thêm nước tương vào đảo cho thịt tơi, chung cuộc đổ dưa cải vào xào đều cho thịt và dưa thấm gia vị, nêm thêm chút muối cho vừa ăn là xong. Nếu dưa đã mặn rồi thì không cần thêm muối bạn nhé!

Bữa tối có món thịt bằm này đảm bảo nồi cơm nhà bạn hết veo - Ảnh 3.

Thành phẩm:

Mùa đông là mùa của các loại rau cải, mùa này cải chua cũng ngon và giòn nhất. Khi kết hợp thịt bằm với cải chua sẽ tạo nên một món ăn đơn giản nhưng lại rất thắm thiết đưa cơm.

Bữa tối có món thịt bằm này đảm bảo nồi cơm nhà bạn hết veo - Ảnh 4.

Chúc bạn làm được món thịt xào dưa thật ngon nhé!

Nguồn: Sohu.com

Muốn biết cách muối dưa cải chua được ngon, giòn và vàng ruộm, mời bạn bấm hoặc vào hình ảnh bên dưới nhé!