Thứ Tư, 20 tháng 11, 2019

Hậu quả của thừa cân, béo phì và cách phòng chống cho trẻ theo từng giai đoạn

Vì sao trẻ dễ bị thừa cân, béo phì?

Thừa cân - béo phì (TC-BP) là sự tích trữ mỡ bất thường, vượt quá mức làm ảnh hưởng đến sức khỏe, TC-BP gặp cả nam và nữ và các lứa tuổi. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2016, có khoảng 41 triệu trẻ dưới 5 tuổi và 340 triệu trẻ em từ 5-19 tuổi bị TC-BP. Năm 1996 tỷ lệ trẻ nít TC-BP tại Hà Nội và TP.HCM là 12%, sau 13 năm (năm 2009) tỷ lệ này 43%. Kết quả điều tra năm 2014-2015, tỷ lệ trẻ béo phì ở TP.HCM trên 50%, còn khu vực nội thành Hà Nội khoảng 41%. Để đánh giá trẻ bị TC-BP, ngoài việc quan sát hình thể của trẻ thì số đo cân nặng và chiều cao cho phép ta nhận định một cách khách quan. Đối với con nít từ 0-5 tuổi: Trẻ coi là thừa cân khi chỉ số cân nặng theo chiều dài hoặc chiều cao nao núng từ 2 độ lệch chuẩn (SD) đến dưới 3SD. Trẻ coi là béo phì khi cân nặng theo chiều dài hoặc chiều cao từ 3SD trở lên. Đối với trẻ con 5-19 tuổi: trẻ được coi là thừa cân khi chỉ số khối thân thể theo tuổi (BMI-Zscore) từ +1 SD đến dưới 2SD. Trẻ được coi là béo phì khi BMI-Zscore từ 2SD trở lên.

Trẻ bị TC-BP cốt yếu là do dinh dưỡng bất hợp lý và ít hoạt động thể lực. Trẻ có cân nặng sơ sinh quá cao, suy dinh dưỡng thấp còi đều có nguy cơ TC-BP - Trẻ ăn nhanh, hay ăn vặt, thích ăn ngọt, uống nước đái khát, thức ăn nhanh (fast food), ăn nhiều vào buổi tối, đặc biệt trước khi đi ngủ. ngoại giả còn do yếu tố di truyền hay ngủ ít.

Hậu quả của thừa cân, béo phì và cách phòng chống cho trẻ theo từng giai đoạn

Hệ lụy của thừa cân béo phì lên xương khớp

Hậu quả của TC-BP đối với thân

Béo phì là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tật của nhiều cơ quan, bộ phận trong cơ thể như:

Thoái hóa khớp, đau thắt lưng: Khi trọng lượng thân thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối, cổ chân làm cho các khớp này sớm bị tổn thương và lão hóa nhanh. Hậu quả là gây đau đớn và khó khăn trong vận động, sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.

Hệ nội tiết, chuyển hóa: Tình trạng kém dung nạp glucose, kháng insulin, nặng hơn là bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa mỡ máu, tăng acid uric gây bệnh gút...

Rối loạn tiêu hóa: Dễ bị sỏi trong gan, gan nhiễm mỡ sớm do tiêu thụ lượng lớn đường fructose và chất tạo ngọt high fructose corn syrup (HFCS) có trong nước có ga và các loại thực phẩm đóng hộp. Đường fructose và chất tạo ngọt HFCS đến gan sẽ chuyển hóa một phần thành acid béo gây tình trạng gan nhiễm mỡ.

Ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ: Khi bé bắt đầu đi học, sẽ dễ bị mặc cảm do bạn bè cợt, chế giễu, dẫn đến ngán ngẩm, không muốn đi học. Dần dần các em trở nên thụ động, thiếu linh hoạt và cô đơn vì không có bạn. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến chứng trầm cảm.

Hệ tim mạch: Tăng áp huyết, xơ vữa huyết quản, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, hẹp tắc động mạch chi.

Hệ hô hấp: Giảm thông khí, ngừng thở khi ngủ là một biến chứng rất hiểm nguy.

Mắc bệnh mãn tính khi trưởng thành: Trẻ TC-BP có thể không có trình bày bệnh ở thời điểm ngày nay nhưng khi trưởng thành có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây như các bệnh tim mạch, đái tháo đường, gan nhiễm mỡ...

phòng ngừa TC-BP theo độ tuổi

Với trẻ 0-5 tuổi: Cần có chế độ ăn hợp lý, tập lề thói cho trẻ ngủ sớm, ngủ đủ giấc, tăng cường hoạt động thể lực qua các hoạt động ngoài trời ở sân trường, công viên và các khu tiêu khiển khác. Bên cạnh đó cũng cần chú trọng dinh dưỡng hợp lý cho người mẹ trong thời kì có thai, nuôi con bằng sữa mẹ và theo dõi tăng trưởng của trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng tại gia đình và trường nhằm phát hiện sớm TC-BP để xử lý kịp thời.

Với trẻ lứa tuổi học đường 6-19 tuổi: Việc thực hành bổ sung sữa (không đường) vào bữa ăn học đường đã giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng và chiều cao ở một số nước. Không Sử dụng thức ăn nhanh, chiên rán nhiều dầu/mỡ. Chương trình bữa ăn học đường bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và dinh dưỡng nhằm giúp trẻ phát triển tối ưu về thể chất và tinh thần. Thức ăn dành cho trẻ cần da dạng (đạt 5 trong 8 nhóm thực phẩm), đảm bảo cung cấp đủ nguồn protein động vật và thực vật. Bữa ăn ở trường và ở nhà cần được phân phối hợp lý. Sử dụng muối i-od với một lượng ít dưới 4 gram/ngày. Không nên ăn mặn. dùng nguồn thực phẩm sẵn có ở địa phương cho bữa ăn học đường. Uống nước lọc (nước đã đun sôi). Trẻ cần được ngủ đủ làng nhàng 8-10 giờ mỗi ngày.

Giải quyết TC-BP là vấn đề của toàn tầng lớp, cần có sự kết hợp chặt đẹp giữa gia đình (phụ huynh) với nhà trường với toàn thể tầng lớp bao gồm các ngành nghề: truyền thông (tăng sự hiểu biết nhận thức về nguy cơ và hậu quả của TC-BP), sản xuất (công bố chất lượng sản phẩm), kinh dinh (căng tin nhà trường hạn chế hoặc không nên bán những thực phẩm có nguy cơ TC-BP), các cơ quan đoàn thể thuộc chính phủ và phi chính phủ (xây dựng luật, kiểm soát các hoạt động theo quy định).

PGS.TS. Cao Thị Thu Hương (Viện Dinh dưỡng Quốc gia)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét